• Đề cử Bảng Xếp Hạng

Cao Văn Lầu

Cao Văn Lầu

1 Album

21 Bài hát

Cao Văn Lầu, thường gọi Sáu Lầu, (22 tháng 12 năm 1892 - 13 tháng 8 năm 1976) là một nhạc sĩ và là tác giả bài "Dạ cổ hoài lang"...

Cao Văn Lầu sinh ngày 22 tháng 12 năm 1892 tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An.
Khi Cao Văn Lầu được bốn tuổi (năm 1896), ông Chín Giỏi (chưa rõ tên thật, cha Cao Văn lầu) vì nghèo, vì bị áp bức nên đã cùng vợ và sáu đứa con nhỏ xuống ghe, tìm đất khác sinh sống.
Buổi đầu, ông Chín Giỏi đến tá túc trên đất của một người bà con ở Gia Hội (Bạc Liêu). Sau 9 tháng đi làm mướn cật lực mà không đủ ăn, gia đình ông lại phải dời sang Xà Phiên (nay thuộc Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang), khẩn hoang làm ruộng.
Khoảng một năm sau, hơn 40 công đất, nhờ khó nhọc mới có được, bị địa chủ chiếm lấy. Nhờ người giới thiệu, gia đình ông Chín Giỏi dọn về Họng Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu) để tiếp tục khẩn hoang, nhưng rồi số đất này về sau cũng về tay người khác.
Xót cảnh trắng tay của ông Giỏi, hương sư Chơn ở làng Vĩnh Lợi tổng Thạnh Hòa, cho ông cất một căn chòi lá ở trên đất công điền gần chùa Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Ở đó, vợ chồng ông và các con phải đi làm thuê, đi câu để chạy ăn từng bữa.
Hòa thượng Minh Bảo (? - 1912), trụ trì chùa Vĩnh Phước An, thấy gia đình ông Chín Giỏi vất vả quá mà không đủ ăn, nên đề nghị cho Cao Văn Lầu, lúc đó mới 8 tuổi, vào chùa ở để chia sẻ gánh nặng. Kể từ đó chú bé Lầu, vừa kinh kệ, vừa được nhà sư dạy chữ Nho.
Năm 1903, nhờ cha đến xin, Cao Văn Lầu được phép trở về nhà để học chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année) tức lớp 4 ngày nay, thì ông Lầu phải thôi học vì nhà gặp thêm cảnh khó: anh đi ở rể, chị lấy chồng, cha già yếu...Vậy là, năm 15 tuổi (1907), Cao Văn Lầu phải thay cha và anh chị đi làm những việc nặng nhọc để nuôi gia đình.
Lúc bấy giờ tại xóm Rạch Ông Bổn có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, tục gọi Hai Khị hay Nhạc Khị. Ông thầy này bị mù cả hai mắt thêm có tật ở chân [1], nhưng ngón đàn của ông thật điêu luyện[2].
Năm 1908, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để xin học đàn mỗi đêm. Nhờ yêu thích và siêng năng, ông mau chóng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.
Năm 1912, ông bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn với bài Tứ đại oán Bùi Kiệm thi rớt.
Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu vâng lệnh cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh).
Khoảng thời gian này, ông sáng tác được một bản ngắn mang tên Bá điểu, sau đổi lại Thu phong, gồm tám câu nhịp bốn. Sau nữa, bản nhạc này được soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt thêm lời ca và có tên mới là Mừng khi gặp bạn.
Năm 1917, ông sáng tác thêm một khúc gồm 22 câu, theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị đề xướng là "Chinh phụ vọng chinh phu" (chủ đề được rút ra từ bản Nam ai "Tô Huệ chức cẩm hồi văn") nhưng chưa kịp sửa chữa và trình thầy thì gặp nghịch cảnh đau lòng. Vợ ông đã ba năm mà vẫn chưa có dấu hiệu thai nghén, theo tục xưa, cha mẹ buộc ông phải trả vợ về nhà cha mẹ ruột.[3]
Khoảng một năm sau, trong tâm trạng nhớ thương vợ, bản nhạc trên được đem ra soạn lại. Nghe bạn đồng môn tên Ba Chột góp ý, ông bỏ bớt 2 câu trùng lắp, bài nhạc còn chẵn 20 câu nhịp đôi.
Tết Trung Thu năm Mậu Ngọ (15 tháng 8 âm lịch, nhằm ngày 19 tháng 9 năm 1918)[4], ông cùng các bạn đến thăm thầy, luôn tiện trình bày bản nhạc chưa có tên trên. Nghe xong, thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi.
Đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng tham dự, thầy Nhạc Khị liền nhờ nhà sư đặt tên cho bản nhạc. Nhà sư nói:"... tuy nhạc và lời ca còn vài điểm bất nhất, nhưng cái chung vẫn diễn tả được tâm tư của nàng Tô Huệ [5]. Vậy cứ theo tích này mà đặt tên cho bài là "Dạ cổ hoài lang" (Nghe tiếng trống đêm nhớ chồng). Kể từ đêm đó, bài ca này được loan truyền nhanh chóng.
Năm 1919, ông Lầu làm nhạc công trong gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu).
Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia Mặt trận Liên Việt ở ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
Năm 1947, ông nhận nhiệm vụ đặc biệt là cứu và đã cứu được một số cán bộ bị thực dân Pháp bắt.
Từ 1918 đến năm 1974, ngoài bản "Dạ cổ hoài lang", mà sau này phát triển thành bản "vọng cổ", làm thay đổi một phần bộ mặt cải lương; ông Cao Văn Lầu còn sáng tác thêm 10 bản nữa, nhưng đa phần chỉ lưu hành ở Bạc Liêu.
Ông mất lúc 13 giờ ngày 13 tháng 8 năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 84 tuổi.

Từ trong quá khứ đến hiện tại ,bản vọng cổ luôn được xem là bản chủ lực của nhạc tài tử cải lương .Cho đến nay nó như một vị hoàng đế trong các cuộc chơi đờn ca tài tử và cả trên sân khấu cải lương .

Ai cũng biết bản vọng cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác tại thị xã Bạc Liêu .Ban đầu có tên Dạ Cổ ,kế đó là Dạ cổ hoài lang và nay là bài vọng cổ ,với từng giai đoạn được nới rộng tiết tấu.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh năm 1892 ,tại làng Thuận Lễ ,tổng Cửu Cư hạ ,nay là xã Thuận Mỹ -Châu Thành –Long An . Ông mất ngày 13/08/1976 (âm lịch) tại thị xã Bạc Liêu mà ông chọn làm quê hương thứ hai ,nơi đã khai sinh ra bản vọng cổ .Thân phụ của ông cũng là nghệ nhân –Hương nhạc chỉ huy ban nhạc lễ trong làng ,tên là Cao Văn Giỏi (Chín Giỏi) .

Ở vào cái thời mà thực dân và phong kiến đàn áp dân nghèo ,người mang nặng kiếp tằm nghiệp dĩ đều phải chịu cảnh đói khổ ,lúc đó ,gia đình ông phải rời nơi chôn nhau cắt rốn(Long An ) dạt về phía Nam ,ghé nhiều nơi ở Nam kỳ lục tỉnh và cuối cùng dừng lại ở Bạc liêu.

Tại đây ,Cao Văn Lầu(6 Lầu); thọ giáo thầy đờn Nhạc Khị ,một thầy đờn giỏi nổi tíêng khắp Nam Kỳ lục tỉnh , đứng đầu nhóm tài tử Bạc Liêu ,người đời tôn ông là hậu tổ tài tử cải lương .Sau một thời gian học đờn tranh và kìm , ông Sáu Lầu trở thành học trò xuất sắc nhất trong nhóm các môn đệ của thầy Nhạc Khị .Sáu Lầu thầm yêu cô Hai Thân(con gái thầy Nhạc Khị) ,nhưng vì nhà nghèo không tiền cưới nên cô Hai Thân; phải đi lấy chồng .

Câu chuyện tình yêu của Sáu Lầu và Hai Thân theo thời gian chỉ còn là kỷ niệm .Gia đình cưới một người con gái cùng quê cho Sáu Lầu nhưng trớ trêu thay , đã ba năm mà nàng không sinh nở ,trong khi cha mẹ Sáu Lầu luôn mong có đứa cháu nội .Hồi đó quan niệm “ Tam niên vô tử bất thành thê” rất khắc nghiệt .Cha mẹ Sáu Lầu buộc ông thôi vợ để cưới người khác và cho vợ ông được trở về nhà cha mẹ đẻ.

Sáu Lầu vẫn chung thuỷ với vợ . Đêm đêm một mình chăn đơn gối chiếc ông nằm nghe tiếng trống chùa Vĩnh Phước vọng lại đến não lòng. Ông liên tưởng đến tình cảm của vợ chồng ông chẳng khác gì thiếu phụ trông chồng như Hòn Vọng Phu ,cùng lúc cảnh đất nước đang bị thực dân phong kiến thống trị .

Đêm khuya thanh vắng ôm đờn mà giải bày tâm sự , ông nhớ đến điệu nam ai với bài Tô Huệ Chức cẩm hồi văn và dựa tứ đó sáng tác bản Dạ Cổ .Từ câu chuyện tình yêu và nổi khổ của mình ,nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã nâng lên thành tâm trạng chung,tư tưởng nghệ thuật chung của dân tộc lúc bấy giờ để môi người cùng chia sẻ.

..Từ là từ phu tướng

Bảo kiếm sắc phong lên đàng

..Trở lại giang đàng

Cho én nhạn hiệp đôi ớ.. ơ

Đó là buổi bình minh của bạn vọng cổ .Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác giai điệu này khoảng cuối năm 1918 , đến năm 1919 thì được phổ biến trong giới tài tử Bạc Liêu .Cũng năm ấy ông lén đến thăm vợ và mấy tháng sau được vợ báo tin bà đã có thai .Cha mẹ ông vui mưừg và rước vợ ông về đoàn tụ .Kết quả bào thai ấy là cậu bé Cao Kiến Thiết ra đời (hiện nay là cán bộ về hưu)

Từ sau năm 1920 thì bản dạ cổ hay dạ cổ hoài lang được phổ biến càng ngày càng rộng khắp miền Tây Nam Bộ ,với từng thời gian và tiết tấu được tăng thêm :nhịp đôi,nhịp tư,nhịp tám ,nhịp 16,và đến nay là bản vọng cổ nhịp 32. Các cuộc đờn ca tài tử nào cũng không thể thiếu vắng bản vọng cổ ,với hơi điệu nam ai oán ,vừa trữ tìinh lãng mạn,có chút buồn man mác …

Ngay khi SKCL ra đời không lâu thì các tác giả tiền bối đã đưa bản vọng cổ vào cải lương và thịnh hành từ sau năm 1930 .càng về sau bản vọng cổ được đưa vào cải lương với số lượng mhiểu hơn, được tách rời từng câu cho phù hợp với tình huống ,hoàn cảnh kịch như có lớp chỉ câu 1+2,có lớp 15+16 ,có màu 3+4m hoặc 1+6…

Các tác giả còn viết trọn bài theo các loại nhịp ,gọi là bản lẻ và thường xuất hiện trên các hãng băng đĩa , đài phát thanh và các cuộc đờn ca tài tử .Từ cuối thập niên 50 đến nay ,nhiều tác giả còn ghép bản vọng cổ với ca khúc ,gọi là tân cổ giao duyên rất ăn ý và nhiều tác phẩm đã làm say mê lòng người không ít.

Bản vọng cổ đã có sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng ,nó chiếm lĩnh tình cảm tất cả các tầng lớp từ trí thức , đến những người bình dân nhất. Nhiều vị tướng lĩnh ,tiến sĩ,giáo sư,bác sĩ ca vọng cổ rất hay và hầu hết dân chúng ở miền ĐBSCL ca rành bản vọng cổ.GSTS Trần Văn Khê ,có lần thuyết trình về cái đẹp của âm nhạc Việt Nam tại TPHCM đã nói “bản vọng cổ rất đa dạng về phong cách và phong phú về tư tưởng nội dung .

Chỉ có câu chữ nhạc trong khuôn khổ nhất định mà mỗi người đờn nghe khác nhau về âm sắc ,người ca nhiều hơi,kỹ thuật giọng điệu cũng khác nhau ,người viết lời khác nhau tạo hương sắc bản vọng cổ muôn màu muôn sắc tuyệt vời.”Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đến Việt Nam nghe bản vọng cổ rồi bảo Vọng cổ chỉ từng ấy câu ,mà quá nhiều lời ăn ,nội dung cỡ nào cũng dung nạp được và nghe hoài không thấy chán.

Và,một nghệ sĩ miền Bắc đã tâm đắc :Nam Bộ có bản vọng cổ vượt thời gian và không gian ,thể loại hay mà người ca cũng hay ,nhất là miền Tây Nam Bộ sờ đâu cũng đụng ca vọng cổ hay ! Phải chăng sự thăng hoa ấy của bản vọng cổ đã đạt đến đỉnh điểm của nó trong lòng mọi tầng lớp công chúng và nó cũng đã vượt đại dương đến nhiều nước trên thế giới.

Cũng chính bản vọng cổ đã khẳng định sức sống và vị trí của mình bởi tính chất đa dạng :hỉ ,nộ, ái , ố .. Đặc điểm này đã nhanh chóng chắp cánh cho nhiều lớp nghệ sĩ nổi danh .Cô Ba Đắc ,Năm Nghĩa,Tư Sạng,cô Ba cần Thơ,Năm Trà Vinh,.. Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn ,tiếp nối những sầu nữ Út bạch lan ,Thanh Nga,Bạch Tuyết,Phượng Liên,Lệ Thuỷ,Mỹ Châu,Thanh Kim Huệ ,Tấn Tài ,Minh Cảnh,Minh Phụng,Minh Vương ,Thanh Sang ,Phương Quang,Thanh Tuấn,Vũ Linh…

Nhờ những câu vọng cổ cải lương hay trên SKCL sàn diễn mà nhiều nghệ sĩ được khán giả coi như thần tượng ,họ luôn mong chờ cho nghệ sĩ xuống hò vọng cổ để vỗ tay tán thưởng …Vọng cổ đã làm cho xiêu lòng chị cho dày duyên em là thế .Có thể nói không một vở cải lương nào mà không có ít nhất vài câu vọng cổ ,vì nó như là máu thịt.

Cứ đến mùa Trung Thu hàng năm ở Bạc Liêu lại tổ chức kỷ niệm ngày mất của nhạc sĩ Cao văn Lầu ,người đã để lại cho nghệ thuật dân tộc một di sản độc đáo ,một bản sắc văn hoá của cả nước nói chung và phía Nam nói riêng.
Theo báo sân khấu Việt Nam - Đỗ Dũng

Xem thêm

Album của 

Xem tất cả

Playlist có thể bạn thích

Xem tất cả